Thông tin tuyên truyền

TÀI LIỆU SINH HOẠT NGÀY PHÁP LUẬT THÁNG 01 NĂM 2021

TÀI LIỆU SINH HOẠT NGÀY PHÁP LUẬT

THÁNG 01 NĂM 2021

 

Phần I

 

1. Tổng hợp những điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019

Bộ luật lao động 2019 sẽ chính thức có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2021 với nhiều điểm mới nổi bật. Dưới đây là sự tổng hợp những điểm mới trong Bộ luật lao động 2019.

Giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói

Bộ luật lao động 2012 cho phép các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng.

Tuy nhiên, khi Bộ luật lao động 2019 có hiệu lực pháp luật thì các bên chỉ có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp:

– Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động; trong trường hợp này, hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và có hiệu lực như giao kết với từng người lao động;

– Phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó;

– Người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình.

Bổ sung thêm hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

Người sử dụng lao động khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động không được giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động cũng như không được yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

Ngoài ra, người sử dụng lao động sẽ không được buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động. Hành vi này được bổ sung thêm bởi khoản 3 Điều 17 Bộ luật lao động 2019.

Không còn hợp đồng mùa vụ

kể từ ngày 01/01/2021, người lao động và người sử dụng lao động có thể thảo thuận và tiến hành giao kết hợp đồng lao động dưới một trong các loại sau đây:

– Hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

– Hợp đồng lao động xác định thời hạn, trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chất dứt của hợp đồng lao động trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực.

Như vậy, so với quy định hiện hành thì sẽ không còn Hợp đồng lao động theo mùa vụ.

Hợp đồng lao động điện tử

Khi giao kết hợp đồng lao động thì phải thể hiện bằng văn bản, trừ trường hợp pháp luật cho phép giao kết hợp đồng bằng lời nói.

Bộ luật lao động 2019 chấp nhận hình hình hợp đồng lao động điện tử. Cụ thể là, hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.

Theo đó, các bên trong quan hệ lao động sẽ có thêm sựa lựa chọn về hình thức giao kết hợp đồng lao động.

Thời gian thử việc

Bộ luật lao động 2012 cho phép thời gian thử việc tối đa là 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên.

Thời gian này sẽ được tăng lên mức tối đa là 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

Bổ sung trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động

Có thêm 04 trường hợp pháp luật cho phép được tạm hoãn hợp đồng lao động ghi nhận tại khoản 2 Điều 30 Bộ luật lao động 2012. Bao gồm:

– Người lao động được bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;

– Người lao động được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;

– Người lao động được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với phần vốn của doanh nghiệp đầu tư tại doanh nghiệp khác.

Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do

Theo pháp luật hiện hành thì người lao động sẽ được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu thuộc một trong 07 trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động 2012.

Tuy nhiên, theo quy định mới thì người lao động sẽ được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do. Đây là một trong những điểm mới nổi bật của Bộ luật lao động 2019.

Bổ sung quy định về thời hạn báo trước

Việc đảm bảo thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là cần thiết. Tuy nhiên, Bộ luật lao động 2012 quy định các trường hợp không phải báo trước cho người lao động, người sử dụng lao động được biết. Đây cũng là một trong những vấn đề nổi bật cần chú ý khi tổng hợp những điểm mới trong Bộ luật lao động 2019.

Đối với người sử dụng lao động

Người sử dụng lao động sẽ không phải báo trước cho người lao động được biết khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp:

– Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau khi thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng đã hết quá 15 ngày (Người lao động vi phạm thời hạn có mặt theo quy định tại Điều 31 Bộ luật lao động).

– Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên.

Đối với người lao động

Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

– Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp người lao động phải chuyển đến nơi làm việc khác so với hợp đồng lao động vì lý do chính đáng;

– Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp bất khả kháng;

– Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

– Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

– Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc;

– Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

– Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Tăng độ tuổi nghỉ hưu

Độ tuổi nghỉ hưu của người lao động sẽ được tăng lên theo lộ trình. Cụ thể:

Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.

Người lao động ở trong trường hợp đặc biệt thì được nghỉ hưu trước tuổi theo quy định.

Tăng thời gian nghỉ Quốc khánh

Ngày Quốc khánh 2/9 sẽ được nghỉ thêm 02 ngày kể từ khi Bộ luật lao động 2019 chính thức có hiệu lực thi hành. Theo đó, kể từ năm 2021, người lao động sẽ được nghỉ 02 ngày vào dịp Quốc khánh (ngày 02 tháng 9 dương lịch và 01 ngày liền kề trước hoặc sau).

Thêm trường hợp nghỉ việc hưởng nguyên lương

Người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương và phải thông báo với người sử dụng lao động trong những trường hợp sau đây:

– Kết hôn: nghỉ 03 ngày;

– Con đẻ, con nuôi kết hôn: nghỉ 01 ngày;

– Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi chết: nghỉ 03 ngày.

Như vậy, so với quy định hiện hành, Bộ luật Lao động 2019 bổ sung thêm trường hợp cha nuôi, mẹ nuôi; cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng chết thì người lao động được nghỉ 03 ngày.

Tăng thời gian làm thêm

Bộ luật lao động 2019 không tăng thời giờ làm thêm giờ trong năm mà chỉ tăng số giờ làm thêm trong tháng tăng lên 40 giờ thay vì 30 giờ và cụ thể hơn các trường hợp được làm thêm tới 300 giờ/năm như sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, linh kiện điện, điện tử, chế biến nông, lâm, thủy sản; cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước…

Được phép ủy quyền cho người khác nhận lương

Người lao động sẽ được ủy quyền cho người khác nhận lương trong trường hợp không thể nhận lương trực tiếp.

Việc ủy quyền cho người khác nhận lương sẽ cấn đáp ứng các điều kiện:

– Việc ủy quyền phải hợp pháp;

– Người sử dụng lao động đồng ý, bởi theo quy định thì người sử dụng lao động "có thể" trả cho người được ủy quyền chứ không bắt buộc.

Tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc

Thay vì tổ chức định kỳ 03 tháng/lần như hiện nay thì khoản 1 Điều 63 Bộ luật Lao động 2019 đã nâng thời gian tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc lên 1 năm/lần.

Ngoài ra, đối thọai tại nơi làm việc có thể được diễn ra khi có yêu cầu của một hoặc các bên hoặc khi có vụ việc cần giải quyết như vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc; khi xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động…

Trả phí mở tài khoản ngân hàng để nhận lương

Bộ Luật lao động 2012 quy định trong trường hợp trả lương qua tài khoản, doanh nghiệp thỏa thuận với người lao động về việc ai là người sẽ chi trả chi phí về việc mở, duy trì tài khoản ngân hàng.

Tuy nhiên, Bộ luật lao động 2019 bắt buộc doanh nghiệp phải chi trả cho những khoản phí này.

 

2. Cho phép bắn pháo hoa trong dịp lễ Tết, sinh nhật

Nội dung đáng chú ý này được đề cập trong Nghị định 137/2020/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo.

Theo Điều 17 Nghị định này, từ 11/01/2021 - ngày Nghị định này có hiệu lực, người dân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được sử dụng pháo hoa trong các trường hợp như Lễ, tết, sinh nhật, cưới hỏi, hội nghị, khai trương… Tuy nhiên, khi sử dụng chỉ được mua pháo hoa tại các tổ chức, doanh nghiệp được phép sản xuất, kinh doanh pháo hoa.

Lưu ý: Loại pháo hoa người dân được sử dụng là sản phẩm được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp… tạo ra các hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, màu sắc trong không gian, không gây ra tiếng nổ (Điều 3 Nghị định 137/2020).

3. Tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại Hà Nội, TP.HCM

Tại Nghị quyết 97/2019/QH14, Quốc hội đã thông qua việc thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại TP. Hà Nội.

Theo đó, từ 01/7/2021, chính quyền địa phương tại phường ở Hà Nội chỉ còn Ủy ban nhân dân phường, không còn Hội đồng nhân dân (HĐND) như ở huyện, quận, thị xã, xã, thị trấn.

Việc thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại TP. Hà Nội được thực hiện từ ngày 01/7/2021 cho đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm.

Với TP. Hồ Chí Minh, Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết 131/2020/QH14. Theo đó, từ 01/7/2021, TP. HCM sẽ tổ chức mô hình chính quyền đô thị, không còn HĐND cấp quận, phường.

Đồng thời, cũng trong Nghị quyết này đã cho phép thành lập chính quyền đô thị thành phố trong thành phố. Sau đó, với Nghị quyết 1111/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thành phố Thủ Đức thuộc TP. HCM đã chính thức được thành lập.

03 Nghị quyết trên đều có hiệu lực từ ngày 01/01/2021.

4. Thí sinh được đi muộn khi thi tuyển công chức, viên chức

Ngày 20/01/2021, Thông tư 6/2020/TT-BNV của Bộ Nội vụ có hiệu lực sẽ bổ sung một số quy định thí sinh phải thực hiện khi thi tuyển công chức, viên chức. Trong đó:

Thí sinh phải có mặt tại phòng thi đúng giờ quy định. Trường hợp thí sinh dự thi đến chậm quá 30 phút tính từ khi bắt đầu giờ làm bài thi thì không được dự thi...

Như vậy, so với quy định trong Thông tư 03/2019/TT-BNV, thí sinh phải có mặt đúng giờ thì theo Thông tư 6/2020, thí sinh được đi muộn không quá 30 phút tính từ khi bắt đầu giờ làm bài thi.

5. Ba trường hợp xây nhà ở riêng lẻ được miễn giấy phép

Luật Xây dựng sửa đổi năm 2020, có hiệu lực ngày 01/01/2021 đã bổ sung trường hợp được miễn giấy phép xây dựng với nhà ở riêng lẻ.

Theo đó, 03 trường hợp xây nhà ở riêng lẻ được miễn giấy phép bao gồm:

- Nhà ở riêng lẻ có quy mô dưới 07 tầng thuộc dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, dự án đầu tư xây dựng nhà ở có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

- Nhà ở riêng lẻ ở nông thôn có quy mô dưới 07 tầng và thuộc khu vực không có quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu chức năng hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

- Nhà ở riêng lẻ ở miền núi, hải đảo thuộc khu vực không có quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu chức năng.

6. Không phải thông báo mẫu dấu doanh nghiệp trước khi sử dụng

Theo quy định cũ tại khoản 2 Điều 44 Luật Doanh nghiệp 2014, trước khi sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Tuy nhiên, từ 01/01/2021 - ngày Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực, không quy định doanh nghiệp phải thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh.

Ngoài ra, trong Luật mới này còn một số thay đổi liên quan đến con dấu của doanh nghiệp như:

- Ghi nhận dấu của doanh nghiệp dưới 02 hình thức là dấu được làm tại cơ sở khắc dấu và dấu dưới hình thức chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

- Doanh nghiệp được quyền tự quyết với con dấu…

7. Trường hợp công khai thông tin đăng ký thuế từ 17/01/2021

Thông tư 105/2020/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành đã bổ sung 02 trường hợp công khai thông tin đăng ký thuế của người nộp thuế, cụ thể:

- Người nộp thuế tạm ngừng hoạt động, kinh doanh.

- Người nộp thuế có vi phạm pháp luật về đăng ký thuế.

Bên cạnh đó, Thông tư 105/2020 vẫn giữ các trường hợp ở Thông tư 95/2016/TT-BTC như: Người nộp thuế ngừng hoạt động, đã hoàn thành  hoặc chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế; Người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký...

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 17/01/2021.

8. Dịch vụ đòi nợ thuê chính thức bị nghiêm cấm

Theo Điều 6 Luật Đầu tư 2020, cấm các hoạt động đầu tư kinh doanh sau đây:

- Kinh doanh dịch vụ đòi nợ (quy định mới)…

- Mua, bán người, mô, xác, bộ phận cơ thể người, bào thai người (bổ sung việc cấm mua, bán xác, bào thai người).

- Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người.

- Kinh doanh pháo nổ.

Trong đó, cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê là một quy định mới. Như vậy, từ 01/01/2021, khi Luật Đầu tư 2021 có hiệu lực, dịch vụ đòi nợ chính thức bị khai tử.

9. Không phải lắp bình chữa cháy trên ô tô 4 chỗ ngồi

Theo Điều 8 Nghị định 136/2020/NĐ-CP , ô tô từ 04 chỗ ngồi trở lên đến 09 chỗ ngồi chỉ cần đáp ứng các điều kiện về an toàn phòng cháy, chữa cháy như sau:

- Đảm bảo điều kiện hoạt động đã được kiểm định.

- Vật tư, hàng hóa bố trí, sắp xếp trên phương tiện phải bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy.

Nghị định này đã bỏ quy định phải có bình chữa cháy trên ô tô từ 04 chỗ đến 09 chỗ ngồi.

Nghị định 136/2020 có hiệu lực kể từ ngày 10/01/2021.

 

10. Kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đến hết 2025

Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 107/2020/QH14 về việc kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp được quy định tại Nghị quyết 55/2010/QH12.

Theo đó, kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp được quy định tại Nghị quyết 55/2010/QH12 về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp (sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết 28/2016/QH14đến hết ngày 31/12/2025, thay vì đến ngày 31/12/2020 như trước.

Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 01/01/2021.

11.Văn bản của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

UBND tỉnh vừa ban hành văn bản giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, các đơn vị có liên quan, UBND các huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện Nghị quyết số 21/2020/NQ-HĐND ngày 13/12/2020 của HĐND tỉnh về Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo đúng các quy định pháp luật hiện hành.

Theo Nghị quyết số 21/2020/NQ-HĐND, đối tượng áp dụng Chính sách nêu trên gồm có: Nông dân, chủ trang trại, người được ủy quyền đối với hộ nông dân, tổ hợp tác; cá nhân, người được ủy quyền đối với nhóm cá nhân, hộ gia đình đăng ký kinh doanh; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Doanh nghiệp; các tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong việc thực hiện Nghị quyết này.

Nội dung và mức hỗ trợ cụ thể như sau:

1. Hỗ trợ chi phí tư vấn xây dựng liên kết: ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% chi phí, trong đó hỗ trợ không quá 300 triệu đồng/dự án liên kết từ cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; không quá 250 triệu đồng/dự án liên kết tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; không quá 250 triệu đồng/dự án liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; không quá 200 triệu đồng/dự án liên kết tổ chức sản xuất, thu hoạch gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

2. Hỗ trợ hạ tầng phục vụ liên kết: ngân sách nhà nước hỗ trợ 30% vốn đầu tư máy móc trang thiết bị; xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ liên kết bao gồm: Nhà xưởng, bến bãi, kho tàng phục vụ sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đối với dự án liên kết trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản. Mức hỗ trợ không quá 5 tỷ đồng/dự án liên kết.

3. Hỗ trợ xây dựng mô hình liên kết điểm: hỗ trợ 50% kinh phí thực hiện mô hình bao gồm, chi phí mua giống, thiết bị, vật tư thiêt yêu cho các hợp tác xã, trang trại để xây dựng mô hình liên kết điểm nhưng không quá 01 tỷ đồng/mô hình; hỗ trợ 100% kinh phí nhưng không quá 02 tỷ đồng/mô hình đối với mô hình liên kết điểm thực hiện tại huyện Côn Đảo và các xã có thôn, ấp đặc biệt khó khăn theo danh sách đơn vị hành chính cấp xã thuộc vùng khó khăn.

4. Hỗ trợ giống, vật tư, bao bì, nhãn mác sản phẩm thông qua các dịch vụ tập trung của hợp tác xã cho các bên tham gia liên kết: hỗ trợ 20 triệu đồng/nhãn hiệu hàng hóa cho việc xây dựng và đăng ký chất lượng, nhãn hiệu hàng hóa (bao gồm tem truy xuất nguồn gốc điện tử); hỗ trợ 50% chi phí mua giống và vật tư thiết yếu đối với liên kết trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.

5. Hỗ trợ 40% chi phí, nhưng không quá 300 triệu đồng/dự án liên kết khi áp dụng quy trình kỹ thuật và quản lý chất lượng đồng bộ theo chuỗi, thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP), cụ thể: hỗ trợ không quá 20 triệu đồng/hộ cho liên kết trồng trọt; chăn nuôi không quá 18 triệu đồng/hộ; thủy sản không quá 17 triệu đồng/hộ.

Phần II

Một số nội dung của Nghị định số 135/2020/NĐ-CP ngày 16/11/2020 của Chính phủ quy định về tuổi nghỉ hưu

 

 Đối tượng áp dụng

1. Người lao động và người sử dụng lao động quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 2 của Bộ luật Lao động.

2. Cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội.

Thời điểm nghỉ hưu và thời điểm hưởng chế độ hưu trí

1. Thời điểm nghỉ hưu là kết thúc ngày cuối cùng của tháng đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định.

Đối với trường hợp người lao động tiếp tục làm việc sau khi đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định thì thời điểm nghỉ hưu là thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Thời điểm hưởng chế độ hưu trí là bắt đầu ngày đầu tiên của tháng liền kề sau thời điểm nghỉ hưu.

3. Trường hợp hồ sơ của người lao động không xác định được ngày, tháng sinh mà chỉ có năm sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh để làm căn cứ xác định thời điểm nghỉ hưu và thời điểm hưởng chế độ hưu trí.

Tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường

Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường theo khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động được quy định cụ thể như sau:

1. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam cho đến khi đủ 62 tuổi vào năm 2028 và cứ mỗi năm tăng thêm 04 tháng đối với lao động nữ cho đến khi đủ 60 tuổi vào năm 2035.

2. Lộ trình điều chỉnh tuổi nghỉ hưu của người lao động quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo bảng dưới đây:

Lao động nam

Lao động nữ

Năm nghỉ hưu

Tuổi nghỉ hưu

Năm nghỉ hưu

Tuổi nghỉ hưu

2021

60 tuổi 3 tháng

2021

55 tuổi 4 tháng

2022

60 tuổi 6 tháng

2022

55 tuổi 8 tháng

2023

60 tuổi 9 tháng

2023

56 tuổi

2024

61 tuổi

2024

56 tuổi 4 tháng

2025

61 tuổi 3 tháng

2025

56 tuổi 8 tháng

2026

61 tuổi 6 tháng

2026

57 tuổi

2027

61 tuổi 9 tháng

2027

57 tuổi 4 tháng

Từ năm 2028 trở đi

62 tuổi

2028

57 tuổi 8 tháng

 

 

2029

58 tuổi

 

 

2030

58 tuổi 4 tháng

 

 

2031

58 tuổi 8 tháng

 

 

2032

59 tuổi

 

 

2033

59 tuổi 4 tháng

 

 

2034

59 tuổi 8 tháng

 

 

Từ năm 2035 trở đi

60 tuổi

Việc đối chiếu tháng, năm sinh của người lao động tương ứng với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản này theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường

Nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường của người lao động theo khoản 3 Điều 169 của Bộ luật Lao động được quy định cụ thể như sau:

1. Người lao động thuộc các trường hợp dưới đây có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Điều 4 của Nghị định này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác:

a) Người lao động có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.

b) Người lao động có từ đủ 15 năm trở lên làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành danh mục vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

c) Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

d) Người lao động có tổng thời gian làm nghề, công việc quy định tại điểm a và thời gian làm việc ở vùng quy định tại điểm b khoản này từ đủ 15 năm trở lên.

2. Tuổi nghỉ hưu thấp nhất của người lao động quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo bảng dưới đây:

Lao động nam

Lao động nữ

Năm nghỉ hưu

Tuổi nghỉ hưu thấp nhất

Năm nghỉ hưu

Tuổi nghỉ hưu thấp nhất

2021

55 tuổi 3 tháng

2021

50 tuổi 4 tháng

2022

55 tuổi 6 tháng

2022

50 tuổi 8 tháng

2023

55 tuổi 9 tháng

2023

51 tuổi

2024

56 tuổi

2024

51 tuổi 4 tháng

2025

56 tuổi 3 tháng

2025

51 tuổi 8 tháng

2026

56 tuổi 6 tháng

2026

52 tuổi

2027

56 tuổi 9 tháng

2027

52 tuổi 4 tháng

Từ năm 2028 trở đi

57 tuổi

2028

52 tuổi 8 tháng

 

 

2029

53 tuổi

 

 

2030

53 tuổi 4 tháng

 

 

2031

53 tuổi 8 tháng

 

 

2032

54 tuổi

 

 

2033

54 tuổi 4 tháng

 

 

2034

54 tuổi 8 tháng

 

 

Từ năm 2035 trở đi

55 tuổi

Việc đối chiếu tháng, năm sinh của người lao động tương ứng với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản này theo Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.

Nghỉ hưu ở tuổi cao hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường

Nghỉ hưu ở tuổi cao hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường của người lao động theo khoản 4 Điều 169 của Bộ luật Lao động được quy định cụ thể như sau:

1. Người lao động có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn khi thỏa thuận với người sử dụng lao động tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu quy định tại Điều 4 của Nghị định này.

2. Việc chấm dứt hợp đồng lao động và giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định tại Mục 3 Chương III của Bộ luật Lao động và quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Quy định chuyển tiếp

1. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, các quy định của chế độ hưu trí gắn với điều kiện về tuổi hưởng lương hưu theo Điều 54, Điều 55, khoản 1 Điều 73 của Luật Bảo hiểm xã hội được thực hiện theo tuổi nghỉ hưu và điều kiện về tuổi hưởng lương hưu tại Điều 169, khoản 1 Điều 219 của Bộ luật Lao động và quy định tại Nghị định này.

2. Đối với lao động nam sinh tháng 12 năm 1960 và lao động nữ sinh tháng 12 năm 1965 làm việc trong điều kiện lao động bình thường thì thời điểm nghỉ hưu là kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2020, thời điểm hưởng lương hưu là bắt đầu ngày 01 tháng 01 năm 2021.

3. Mốc tuổi để tính số năm nghỉ hưu trước tuổi làm cơ sở tính giảm tỷ lệ hưởng lương hưu quy định tại khoản 3 Điều 56 của Luật Bảo hiểm xã hội được xác định như sau:

a) Đối với người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội

Người lao động trong điều kiện lao động bình thường thì lấy mốc tuổi theo điểm a khoản 1 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 1 Điều 219 của Bộ luật Lao động và Điều 4 của Nghị định này.

Người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021 thì lấy mốc tuổi theo điểm b khoản 1 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 1 Điều 219 của Bộ luật Lao động và Điều 5 của Nghị định này.

Người lao động làm công việc khai thác than trong hầm lò theo quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này thì lấy mốc tuổi giảm 10 tuổi so với tuổi quy định tại điểm a khoản 1 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 1 Điều 219 của Bộ luật Lao động và Điều 4 của Nghị định này.

b) Đối với người lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội

Người lao động trong điều kiện lao động bình thường thì lấy mốc tuổi theo điểm a khoản 2 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 1 Điều 219 của Bộ luật Lao động và Điều 4 của Nghị định này.

Người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021 thì lấy mốc tuổi theo điểm b khoản 2 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 1 Điều 219 của Bộ luật Lao động và Điều 5 của Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021.

Phòng Tư pháp huyện Xuyên Mộc