Thông tin tuyên truyền

Tài liệu tuyên truyền về công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và các loại đồ chơi nguy hiểm bị cấm

TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN

Về công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và các loại đồ chơi nguy hiểm bị cấm

Thực hiện sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện Xuyên Mộc tại Công văn số 7013/UBND-CAH ngày 24 tháng 12 năm 2019 về việc tăng cường công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và các loại đồ chơi nguy hiểm bị cấm. Phòng Tư pháp – Thường trực Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật Huyện biên soạn một số nội dung của các văn bản pháp luật sau:

Giới thiệu một số quy định pháp luật về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ

I) Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2018)

1. Thế nào là vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ? (Điều 3)

a) Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự.

- Vũ khí quân dụng là vũ khí được chế tạo, sản xuất bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, được trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của Luật để thi hành công vụ, bao gồm:

+ Súng cầm tay bao gồm: súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng trung liên, súng chống tăng, súng phóng lựu;

+ Vũ khí hạng nhẹ bao gồm: súng đại liên, súng cối, súng ĐKZ, súng máy phòng không, tên lửa chống tăng cá nhân;

+ Vũ khí hạng nặng bao gồm: máy bay chiến đấu, trực thăng vũ trang, xe tăng, xe thiết giáp, tàu chiến, tàu ngầm, pháo mặt đất, pháo phòng không, tên lửa;

+ Bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi; đạn sử dụng cho các loại súng cầm tay, vũ khí hạng nhẹ, vụ khí hạng nặng.

- Súng săn là súng được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, được sử dụng để săn bắn, bao gồm: súng kíp, súng hơi và đạn sử dụng cho các loại súng này.

- Vũ khí thô sơ là vũ khí có cấu tạo, nguyên lý hoạt động đơn giản và được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, bao gồm: dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu.

- Vũ khí thể thao là vũ khí được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, được sử dụng để luyện tập, thi đấu thể thao, bao gồm:

+ Súng trường hơi, súng trường bắn đạn nổ, súng ngắn hơi, súng ngắn bắn đạn nổ, súng thể thao bắn đạn sơn, súng bắn đĩa bay và đạn sử dụng cho các loại súng này;

+ Vũ khí thô sơ dùng để luyện tập, thi đấu thể thao.

- Vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự là vũ khí được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất tương tự như vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao.

b) Vật liệu nổ là sản phẩm dưới tác động của xung kích thích ban đầu gây ra phản ứng hóa học nhanh, mạnh, tỏa nhiệt, sinh khí, phát sáng, tạo ra tiếng nổ, bao gồm:

- Thuốc nổ là hóa chất hoặc hỗn hợp chất được sản xuất, sử dụng nhằm tạo ra phản ứng nổ dưới tác động của xung kích thích;

- Phụ kiện nổ là kíp nổ, dây nổ, dây cháy chậm, mồi nổ, vật phẩm chứa thuốc nổ có tác dụng tạo xung kích thích ban đầu làm nổ khối thuốc nổ hoặc thiết bị chuyên dùng có chứa thuốc nổ.

c) Công cụ hỗ trợ là phương tiện, động vật nghiệp vụ được sử dụng để thi hành công vụ, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nhằm hạn chế, ngăn chặn người có hành vi vi phạm pháp luật chống trả, trốn chạy; bảo vệ người thi hành công vụ, người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hoặc báo hiệu khẩn cấp, bao gồm:

- Súng bắn điện, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, từ trường, laze, lưới; súng phóng dây mồi; súng bắn đạn nhựa, nổ, cao su, hơi cay, pháo hiệu, hiệu lệnh, đánh dấu và đạn sử dụng cho các loại súng này;

- Phương tiện xịt hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, chất gây ngứa;

- Lựu đạn khói, lựu đạn cay, quả nổ;

- Dùi cui điện, dùi cui cao su, dùi cui kim loại; khóa số tám, bàn chông, dây đinh gai; áo giáp; găng tay điện, găng tay bắt dao; lá chắn, mũ chống đạn; thiết bị áp chế bằng âm thanh;

- Động vật nghiệp vụ là động vật được huấn luyện để sử dụng cho yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;

- Công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự là phương tiện được chế tạo, sản xuất không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có tính năng, tác dụng tương tự như công cụ hỗ trợ.

2. Các hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ và công cụ hỗ trợ (Điều 5)

a) Cá nhân sở hữu vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, trừ vũ khí thô sơ là hiện vật để trưng bày, triển lãm, đồ gia bảo.

b) Nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, sửa chữa, sử dụng trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ hoặc chi tiết, cụm chi tiết để lắp ráp vũ khí, công cụ hỗ trợ.

c) Mang trái phép vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ vào, ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc vào nơi cấm, khu vực cấm, khu vực bảo vệ và mục tiêu bảo vệ.

d) Lợi dụng, lạm dụng việc sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

đ) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ được giao.

e) Giao vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện theo quy định.

g) Trao đổi, tặng, cho, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ hoặc chi tiết, cụm chi tiết để lắp ráp vũ khí, công cụ hỗ trợ; trừ trường hợp trao đổi, tặng, cho, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê vũ khí thô sơ để làm hiện vật trưng bày, triển lãm, đồ gia bảo.

h) Vận chuyển, bảo quản, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ không bảo đảm an toàn hoặc làm ảnh hưởng đến môi trường.

i) Chiếm đoạt, mua bán, trao đổi, tặng, cho, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, làm giả, sửa chữa, tẩy xóa các loại giấy phép, giấy xác nhận, giấy chứng nhận, chứng chỉ về vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ.

k) Chiếm đoạt, mua bán, trao đổi, tặng, cho, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố phế liệu, phế phẩm vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

l) Hướng dẫn, huấn luyện, tổ chức huấn luyện trái phép cách thức chế tạo, sản xuất, sửa chữa hoặc sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ dưới mọi hình thức.

m) Che giấu, không tố giác, giúp người khác chế tạo, sản xuất, mang, mua bán, sửa chữa, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép hoặc hủy hoại vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ.

n) Đào bới, tìm kiếm, thu gom trái phép vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; phế liệu, phế phẩm vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

o) Cố ý cung cấp thông tin sai lệch về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ; không báo cáo, báo cáo không kịp thời, che giấu hoặc làm sai lệch thông tin báo cáo về việc mất, thất thoát, tai nạn, sự cố về vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ.

3. Tiếp nhận, thu gom vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ (Điều 64)

a) Vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ tiếp nhận, thu gom bao gồm: các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ nêu tại Mục 1; phế liệu, phế phẩm, phụ kiện của vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; chất nổ từ bom, mìn, lựu đạn, đạn, quả nổ, ngư lôi, thủy lôi.

b) Các trường hợp tiếp nhận, thu gom bao gồm:

- Vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân không được trang bị hoặc sở hữu theo quy định của pháp luật;

- Vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ có liên quan đến vụ án đã được cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật; vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ do cơ quan chức năng phát hiện, thu giữ;

- Vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ do cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện nhưng không xác định được cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý hoặc sở hữu; vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ sau chiến tranh còn tồn tại ở ngoài xã hội.

II) Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

1. Xử phạt vi phạm hành chính đối với một số hành vi vi phạm quy định về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ (Điều 10)

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi Không kê khai và đăng ký đầy đủ các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ với cơ quan có thẩm quyền.

b) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

- Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng, cho, tặng, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, thế chấp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ;

Hình thức phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng các loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trong thời hạn từ 09 tháng đến 12 tháng.

- Không thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền về việc mất các loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo hoa;

- Sử dụng các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trái quy định nhưng chưa gây hậu quả; Hình thức phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; Tước quyền sử dụng các loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo hoa trong thời hạn từ 09 tháng đến 12 tháng

- Sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép;

Hình thức phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

- Giao vũ khí, công cụ hỗ trợ cho người không có đủ điều kiện, tiêu chuẩn sử dụng;

Hình thức phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng.

- Không giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ theo quy định.

Hình thức phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

c) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

- Mua, bán các loại phế liệu, phế phẩm là vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ;

- Vi phạm các quy định an toàn về vận chuyển vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ;

Hình thức phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng các loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trong thời hạn từ 09 tháng đến 12 tháng

- Cưa hoặc tháo bom, mìn, đạn, lựu đạn, thủy lôi và các loại vũ khí khác để lấy thuốc nổ trái phép;

Hình thức phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

- Làm mất vũ khí, công cụ hỗ trợ.

d) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với một trong những hành vi sau đây:

- Sản xuất, sửa chữa các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép;

- cụ hỗ trợ mà không có giấy phép;

- Mua, bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép vũ khí thể thao;

- Vận chuyển vũ khí, các chi tiết vũ khí quân dụng, phụ kiện nổ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép hoặc có giấy phép nhưng không thực hiện đúng quy định trong giấy phép hoặc không có các loại giấy tờ khác theo quy định của pháp luật;

- Bán vật liệu nổ công nghiệp, Nitrat Amon hàm lượng cao (từ 98,5% trở lên) cho các đơn vị chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp hoặc Nitrat Amon hàm lượng cao (từ 98,5% trở lên) hoặc văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

đ) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với một trong những hành vi sau đây:

- Sản xuất, chế tạo, sửa chữa vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, súng săn trái phép;

- Mang vào hoặc mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trái phép vũ khí, súng săn, công cụ hỗ trợ, các loại pháo, đồ chơi nguy hiểm.

* Tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, người vi  phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 304, 305, 306, 307, 308,… Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

 

Một số nội dung cơ bản của Nghị định số 36/2009/NĐ-CP ngày 15/04/2009 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo

 

 Giải thích từ ngữ (Điều 3)

1. Thuốc pháo nổ là hoá chất hoặc hỗn hợp hoá chất khi có tác động của các kích thích cơ, nhiệt, hoá, điện gây nên một phản ứng hóa học nhanh, nhạy, tỏa nhiệt, sinh khí và tạo ra tiếng nổ.

2. Thuốc pháo hoa là hoá chất hoặc hỗn hợp hoá chất để sản xuất pháo hoa, khi có tác động của các kích thích cơ, nhiệt, hoá, điện gây nên phản ứng hoá học tốc độ cao, toả nhiệt, phát quang, sinh khí có thể kèm theo tiếng nổ.

3. Pháo nổ là loại sản phẩm có chứa thuốc pháo được chế tạo bằng các công nghệ khác nhau không phân biệt xuất xứ và nơi sản xuất, khi có tác động của các kích thích cơ, nhiệt, hoá, điện gây nên tiếng nổ.

4. Pháo hoa là sản phẩm có chứa thuốc pháo hoa, khi có các tác động của các kích thích cơ, nhiệt, hoá, điện sẽ gây phản ứng hoá học tạo hiệu ứng ánh sáng có màu sắc, gây tiếng nổ hoặc không gây tiếng nổ.

5. Pháo hoa đơn là pháo hoa tầm thấp mà trong mỗi thiết bị kỹ thuật chuyên dụng có chứa 01 quả pháo.

6. Pháo hoa kép là loại pháo hoa tầm thấp mà trong mỗi thiết bị kỹ thuật chuyên dụng có chứa 02 quả pháo.

7. Bắn pháo hoa tầm cao là việc sử dụng ống phóng chuyên dụng và thiết bị bắn để đẩy pháo hoa lên độ cao trên 90 m.

8. Bắn pháo hoa tầm thấp là việc sử dụng thiết bị kỹ thuật chuyên dụng (không sử dụng ống phóng) để đẩy pháo hoa lên độ cao từ 90 m trở xuống.

Các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 4)

1. Sản xuất, mua, bán, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép các loại pháo nổ, thuốc pháo nổ.

2. Sản xuất, mua, bán, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép các loại pháo hoa, thuốc pháo hoa.

3. Mua, bán, tàng trữ, sử dụng thuốc nổ lấy từ các loại bom, mìn, đạn, lựu đạn, vật liệu nổ quân dụng (dùng trong quốc phòng, an ninh), vật liệu nổ công nghiệp để sản xuất trái phép pháo, thuốc pháo.

4. Sử dụng súng, dùng vật liệu nổ không đúng quy định để gây tiếng nổ thay cho pháo.

Các loại pháo, sản phẩm pháo được sử dụng (Điều 5)

1. Pháo hoa do Bộ Quốc phòng sản xuất, nhập khẩu để tổ chức bắn pháo hoa đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

2. Pháo hoa do tổ chức, cá nhân nước ngoài được Thủ tướng Chính phủ  Việt Nam cho phép và được Bộ Công an cấp giấy phép mang vào Việt Nam để dự thi bắn pháo hoa.

3. Pháo hiệu dùng trong các hoạt động báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, cứu hộ, cứu nạn, giao thông vận tải và hoạt động quân sự.

4. Các sản phẩm như: pháo hoa lễ hội bằng giấy (trừ loại hoa có chứa kim loại), pháo điện, pháo trang trí bằng giấy, bằng nhựa, bằng tre, trúc, kim loại; que hương phát sáng; các sản phẩm phát tín hiệu ánh sáng, màu sắc, âm thanh được dùng trong các hoạt động văn hoá, văn nghệ không gây nên tiếng nổ.

 

CHỈ THỊ

SỐ 20/CT-TTG NGÀY 01 THÁNG 6 NĂM 2016 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CẤP BÁCH NHẰM NGĂN CHẶN VÀ GIẢM THIỂU TAI NẠN BOM MÌN, VẬT NỔ CÒN SÓT LẠI SAU CHIẾN TRANH

Trong thời gian gần đây, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 504 đã có nhiều cố gắng, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai các hoạt động của Chương trình Hành động quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh (viết tắt là Chương trình 504), trong đó hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức phòng tránh tai nạn bom mìn cho nhân dân đã và đang đạt được những kết quả tích cực.

Mặc dù số vụ tai nạn do bom mìn, vật nổ có giảm so với trước nhưng thời gian gần đây trên toàn quốc, nhất là khu vực biên giới phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên vẫn liên tục xảy ra các vụ nổ bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh, làm thiệt hại tính mạng và tài sản của nhân dân, tài sản của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người dân, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và hình ảnh của đất nước trong thời bình.

Theo thống kê, có khoảng 30% số vụ nổ là do người dân tự ý thu gom, tàng trữ, mua bán, cưa cắt, tháo gỡ bom đạn. Số còn lại là các tai nạn xảy ra khi trẻ em hoặc người dân sinh sống, lao động, canh tác tại các khu vực ô nhiễm bom mìn, vật nổ nặng vô tình tác động vào gây nổ. Điển hình gần đây nhất là các vụ nổ bom sót lại sau chiến tranh gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như: vụ nổ tại khu đô thị Văn Phú, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ngày 19 tháng 3 năm 2016 làm 5 người chết và hơn 10 người bị thương; vụ nổ tại Bãi Dinh, buôn Mả Vôi, xã Đức Bình Tây, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên ngày 14 tháng 5 năm 2016 làm 3 người chết. Các loại bom mìn, vật nổ sót lại sau chiến tranh do người dân phát hiện, thu lượm được, nếu không quản lý chặt chẽ sẽ tiềm ẩn nguy cơ phát nổ gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản của nhân dân, phá hoại an ninh trật tự và tạo điều kiện cho việc mua bán, tàng trữ, sử dụng bom mìn, vật liệu nổ trái phép.

Nguyên nhân chủ yếu là do người dân chưa nhận thức được về tác hại, mức độ nguy hiểm, sức công phá của bom mìn, vật nổ; công tác quản lý nhà nước, tuyên truyền, giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn; kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm trong việc thu mua, sử dụng trái phép bom mìn, vật nổ chưa được tiến hành đồng bộ và kịp thời, còn tình trạng buông lỏng quản lý ở cấp cơ sở; việc xác định những khu vực ưu tiên rà phá bom mìn chưa đồng bộ với việc huy động sử dụng tập trung, hiệu quả các nguồn lực của trung ương và địa phương, chưa phối hợp huy động được nhiều nguồn lực quốc tế.

Để ngăn chặn, tiến tới nhanh chóng giảm thiểu tới mức tối đa các vụ tai nạn thương tâm do bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh gây ra và triển khai có hiệu quả Chương trình 504, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành liên quan, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 504 và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần tăng cường thực hiện đồng bộ các giải pháp cấp bách sau:

- Tăng cường trách nhiệm của cả hệ thống chính trị (chính quyền và cơ quan chức năng các địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội) đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức phòng tránh tai nạn bom mìn cho nhân dân, nhất là thanh, thiếu niên trên các địa bàn thường xảy ra tai nạn bom mìn trong 5 năm trở lại đây, đặc biệt là khu vực miền Trung, Tây Nguyên.

- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các quy định của pháp luật và các hình thức xử lý vi phạm về thu gom, mua bán, tàng trữ, cưa cắt, sử dụng trái phép bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

- Khẩn trương rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, quy định, hướng dẫn có liên quan đến quản lý Nhà nước; phát hiện và xử lý các vi phạm về thu gom, tàng trữ, mua bán, cưa cắt, sử dụng trái phép bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiếntranh, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

- Tăng cường trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan nhất là Ủy bannhân dân cấp xã trong quản lý, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm của các tổ chức, cá nhân khi thu gom, tàng trữ, mua bán, cưa cắt, sử dụng trái phép bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

- Tăng cường triển khai thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động của Chương trình 504; Đẩy mạnh hoạt động vận động tài trợ với tăng cường cơ chế vận động tài trợ cấp cao. Tiếp tục hoàn thiện, củng cố bộ máy các cơ quan, đơn vị của Trung tâm Hành động bom mìn quốc gia Việt Nam để triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình 504.

- Tổ chức xây dựng, triển khai thực hiện các đề án, dự án rà phá bom mìn, ưu tiên cho các khu vực ô nhiễm bom mìn nặng, gắn với việc bảo đảm an toàn cho nhân dân và phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là tuyến biên giới Việt - Trung, các khu Kinh tế cửa khẩu, các khu vực ô nhiễm bom mìn nặng và hay xảy ra tai nạn.

- Nghiên cứu đề xuất các mô hình phối hợp, lồng ghép để hỗ trợ nạn nhân bom mìn; ưu tiên nâng cấp các trạm y tế quân dân y kết hợp tại vùng sâu, vùng xa, vùng ô nhiễm bom mìn nặng để cứu chữa kịp thời nạn nhân khi xảy ra tai nạn do bom mìn, vật nổ.

Để triển khai các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn và giảm thiểu tai nạn bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh, vũ khí, vật liệu nổ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:

1. Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 504:

a) Khẩn trương rà soát, tư vấn đề xuất với các Bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quản lý Nhà nước trong lĩnh vực khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh.

b) Nghiên cứu đề xuất các mô hình phối hợp vận động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài trợ phù hợp với yêu cầu của các nhà tài trợ. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức phòng tránh tai nạn bom mìn cho nhân dân, nhất là thanh, thiếu niên trên các địa bàn thường xảy ra tai nạn bom mìn trong 5 năm trở lại đây, đặc biệt là các khu vực có mức độ ô nhiễm bom mìn nặng.

c) Đề xuất, phối hợp với Bộ Quốc phòng trong việc chỉ đạo các cơ quan, đơn vị xây dựng, triển khai các đề án, dự án rà phá bom mìn cần ưu tiên trước ở các khu vực ô nhiễm bom mìn nặng, gắn với việc bảo đảm an toàn cho nhân dân và phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là tuyến biên giới Việt - Trung, các khu Kinh tế cửa khẩu, các khu vực ô nhiễm bom mìn nặng và hay xảy ra tai nạn ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên.

d) Phối hợp với Bộ Quốc phòng rà soát, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ về cơ chế quản lý, điều hành, cấp phép, giám sát để tăng cường hiệu quả sử dụng các nguồn ngân sách theo Chương trình 504; kết hợp lồng ghép giữa hoạt động rà phá bom mìn với tuyên truyền, giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn cho nhân dân.

đ) Phối hợp với các cơ quan chức năng rà soát, nghiên cứu, đề xuất với Bộ Quốc phòng mua sắm và vận động tài trợ để bảo đảm đủ trang, thiết bị rà phá bom mìn cho lực lượng quân đội chuyên trách.

e) Nghiên cứu đề xuất đưa vào kế hoạch thực hiện Chương trình 504 các mô hình phối hợp, lồng ghép để hỗ trợ sinh kế cho nạn nhân bom mìn, nâng cấp các trạm y tế quân dân y kết hợp ở các khu vực ô nhiễm bom mìn nặng trên các địa bàn chiến lược, gắn với quốc phòng, an ninh.

2. Bộ Quốc phòng:

a) Chủ trì, phối hợp với Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 504 và các Bộ, ngành liên quan trong xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, quy định có liên quan trong công tác quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực khắc phục hậu quả bom mìn.

b) Tăng cường năng lực, điều kiện bảo đảm cho Trung tâm Hành động bom mìn quốc gia Việt Nam đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ của Chương trình 504 và đáp ứng yêu cầu vận động tài trợ quốc tế.

c) Kiện toàn các lực lượng quân đội chuyên trách tham gia rà phá bom mìn theo hướng tăng cường huấn luyện, củng cố, đầu tư mua sắm trang thiết bị đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của Chương trình 504.

d) Chủ trì, phối hợp với Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 504 trong việc chỉ đạo Trung tâm Hành động bom mìn quốc gia Việt Nam xây dựng, triển khai các đề án, dự án ưu tiên khắc phục hậu quả bom mìn, các dự án vận động tài trợ.

đ) Chỉ đạo cơ quan quân sự địa phương, các đơn vị trực thuộc tăng cường phối hợp với cơ quan chức năng các địa phương trong tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức phòng tránh tai nạn bom mìn cho nhân dân; trong tiếp nhận, thu gom, quản lý, tiêu hủy bom mìn, vật nổ theo quy định.

e) Chỉ đạo các quân khu, Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh có mức độ ô nhiễm bom mìn nặng (miền Trung, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ) tổ chức và duy trì hoạt động lực lượng công binh chuyên trách làm nhiệm vụ thu gom, xử lý bom mìn, vật nổ khi cần.

3. Bộ Công an:

a) Chỉ đạo công an các địa phương phối hợp với chính quyền cấp cơ sở và cơ quan quân sự trong việc huy động lực lượng, thiết bị, phương tiện để tiếp nhận, thu gom, quản lý, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ theo quy định; đẩy mạnh kiểm tra, xử lý vi phạm liên quan đến việc người dân thu gom, tàng trữ, mua bán, cưa cắt, sử dụng trái phép bom mìn, vật nổ sót lại sau chiến tranh, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ có nguy cơ gây tai nạn, vi phạm các quy định của pháp luật liên quan.

b) Rà soát bổ sung, hoàn thiện các quy định, hướng dẫn liên quan đến việc phát hiện và xử lý các vi phạm về thu gom, tàng trữ, mua bán, cưa cắt, sử dụng trái phép bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

c) Chỉ đạo điều tra, làm rõ nguyên nhân các vụ tai nạn do người dân thu mua, sử dụng trái phép bom mìn, vật nổ sót lại sau chiến tranh, xác định trách nhiệm liên quan để xử lý, sớm khởi tố đưa ra xét xử các trường hợp vi phạm điển hình. Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng trong chỉ đạo, xác định nguồn gốc, chủng loại bom mìn, vật nổ gây ra tai nạn để có giải pháp ngăn chặn kịp thời.

d) Tăng cường phối hợp với Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 504 trong việc triển khai các hoạt động thuộc Chương trình 504 của Chính phủ.

4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội:

a) Tăng cường phối hợp với các địa phương, các cơ quan quản lý lao động để kiểm tra, giám sát công tác bảo đảm an toàn lao động; chế độ chính sách với các đối tượng thuộc diện nghèo, cận nghèo và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống ở tại các khu vực ô nhiễm bom mìn nặng; công tác giáo dục, hướng nghiệp cho các đối tượng chưa có việc làm.

b) Đẩy mạnh hoạt động của Hội và Quỹ hỗ trợ khắc phục hậu quả bom mìn Việt Nam.

c) Thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động, dự án liên quan được giao trong Chương trình 504.

5. Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các tổ chức Đoàn thể trung ương, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các đài phát thanh, truyền hình địa phương và các cơ quan truyền thông theo chức năng được giao, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức phòng tránh tai nạnbom mìn cho nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng; tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các quy định pháp luật và các hình thức xử lý vi phạm trong lĩnh vực này; phối hợp chặt chẽ với Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 504 trong triển khai các nhiệm vụ liên quan.

6. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:

a) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã phối hợp với các cơ quan đơn vị liên quan, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm vi phạm liên quan đến việc người dân thu gom, tàng trữ, mua bán, cưa cắt, sử dụng trái phép bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ có nguy cơ gây tai nạn.

b) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã chủ trì phối hợp với cơ quan công an, cơ quan quân sự địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức phòng tránh tai nạn bom mìn cho nhân dân; mở các cuộc vận động nhân dân phát hiện, trình báo, giao nộp bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ cho các cơ quan chức năng.

c) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã tăng cường công tác quản lý, kiểm tra hoạt động thu gom, tàng trữ, mua bán, cưa cắt, sử dụng trái phép bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Kiên quyết đình chỉ các hoạt động nếu vi phạm các quy định, có nguy cơ mất an toàn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và tương đương phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tai nạn do thu gom, tàng trữ, mua bán, cưa cắt, sử dụng trái phép bom mìn, vật nổ sót lại sau chiến tranh, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trên địa bàn quản lý.

d) Có hình thức xử lý nghiêm đối với các cấp cơ sở buông lỏng quản lý để người dân vi phạm các quy định và có hình thức khen thưởng, động viên kịp thời với các cá nhân phát hiện, trình báo cơ quan chức năng về việc thu gom, tàng trữ, mua bán, cưa cắt, sử dụng trái phép bom mìn, vật nổ sót lại sau chiến tranh, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

7. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 504, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện Chỉ thị này.

 

QUYẾT ĐỊNH 464/QĐ-BNV NGÀY 27/12/1993 CỦA BỘ NỘI VỤ BAN HÀNH
DANH MỤC CÁC LOẠI ĐỒ CHƠI NGUY HIỂM BỊ CẤM

Ngày 27-12-1993, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã ra Quyết định số 464/BNV ban hành danh mục các loại đồ chơi nguy hiểm bị cấm, bao gồm:

- Các loại đồ chơi có hình dáng giống như các loại súng trường, súng tiểu liên, súng ngắn; súng nén hơi, nén lò xo bắn đạn nhựa hoặc đạn các loại; súng bắn phun nước, bắn phát quang hoặc bắn gây nổ;

- Các loại kiếm, mác, lưỡi lê, dao găm, cung, nỏ làm bằng gỗ, tre, nhựa, giấy nén;

- Các loại bật lửa có hình dáng quả lựu đạn hoặc hình dáng súng ngắn./.

Phòng Tư pháp huyện Xuyên Mộc